Dân tộc Thái

Review DacSan
19/12/23
0
989 Views

Dân tộc Thái hiện có khoảng 1.330.000 người, đứng hàng thứ ba về dân số trong các dân tộc ở nước ta (sau người Việt và người Tày). Họ còn có những tên gọi khác như: Tay Thanh, Man Thanh, Tay Mười, Tay Mường, Hàng Tổng, Tay Dọ, Thổ. Có hai nhóm địa phương: Ngành Đen (Tay Dăm) và Ngành Trắng (Tay Đón). Tiếng nói thuộc nhóm ngôn ngữ Tày-Thái.

Dân tộc Thái

Dân tộc Thái

Dân tộc Thái có cội nguồn ở vùng lục địa Đông Nam Á, đã có mặt ở Việt Nam từ xa xưa, sống tập trung ở các tỉnh Sơn La, Lai Châu, Điện Biên, Hòa Bình, Nghệ An. Họ ở nhà sàn, có nhiều dáng vẻ khác nhau: loại nhà mái tròn khum hình mai rùa, hai đầu mái hồi có Khau cút; loại nhà 4 mái, mái bằng sàn hình chữ nhật gần vuông, hiên có lan can; loại nhà sàn dài, cao, mỗi gian hồi làm tiền sảnh; loại nhà mái thấp, hẹp lòng.

Đồng bào Thái đã quen làm lúa nước từ lâu với hệ thống thủy lợi rất hiệu quả. Trước đây cấy một vụ lúa nếp, nay chuyển thành 2 vụ lúa tẻ. Ngoài ra, họ còn làm nương trồng lúa, ngô, hoa màu, cây thực phẩm, đặc biệt trồng bông lấy sợi dệt vải.

Gạo tẻ là lương thực chính của người Thái, gạo nếp dùng đồ xôi là món ăn truyền thống. Họ thích uống rượu cần, hút thuốc lào.

Y phục phụ nữ khá đẹp mắt: áo cánh ngắn đủ màu sắc, đính hàng khuy bạc hình bướm, nhện, ve sầu… chạy trên đường nẹp xẻ ngực, bó sát thân, với chiếc váy vải thâm hình ống, thắt eo bằng dải lụa màu xanh lá cây, đeo dây xà tích bạc bên hông. Phụ nữ Thái Đen đội khăn piêu nổi tiếng với các hình hoa văn thêu nhiều màu sắc rực rỡ.

Nam giới mặc quần cắt theo kiểu chân què có cạp để thắt lưng, áo cánh xẻ ngực, có túi hai bên gấu vạt. Áo Thái Trắng có thêu một túi ngực trái, cài khuyết bằng dây vải. Quần áo phổ biến là màu đen.

Dân tộc Thái vận chuyển đồ đạc chủ yếu là gánh, biết dùng ngựa cưỡi, thồ. Người Thái ở dọc sông Đà đi lại bằng thuyền.

Dân tộc Thái có nhiều họ, mỗi họ thường có những quy định kiêng kỵ khác nhau, như họ Lò không ăn thịt chim táng cò, họ Quảng kiêng con hổ.

Đồng bào Thái thờ tổ tiên, cúng trời đất, cúng bản mường. Gắn liền với sản xuất là những nghi lễ cầu mùa. Mở đầu hằng năm bằng lễ đón tiếng sấm năm mới.

Trước kia người Thái cưới xin theo chế độ hôn nhân gả bán và ở rể, nên việc lấy vợ, lấy chồng phải theo nhiều bước:

  • Cưới lên (dong khửn): đưa rể đến ở nhà vợ (bước thử thách phẩm giá, năng lực lao động của chàng rể). Sau lễ cưới này, phụ nữ Thái Đen búi tóc ngược lên đỉnh đầu. Tục ở rể từ 8 đến 12 năm.
  • Cưới xuống (đong long): đưa gia đình về ở hẳn với bố mẹ chồng.

Lễ tang có 2 bước:

  • Phúng viếng: tiễn đưa hồn người chết lên cõi hư vô, đưa thi hài đi chôn cất (Thái Trắng) hoặc hỏa thiêu (Thái Đen)
  • Tiếp theo đưa đồ tang lễ ra bãi tha ma và làm lễ gọi ma trở về ngụ tại gian thờ cúng tổ tiên trong nhà.

Người Thái có nhiều điệu múa xòe, các loại sáo lam và tiêu, có hát thơ, hát đối đáp giao duyên…

54 Dân Tộc Việt Nam

Dân tộc Ba Na Dân tộc Bố Y Dân tộc Brâu Dân tộc Bru-Vân Kiều
Dân tộc Chăm Dân tộc Chơ Ro Dân tộc Chu Ru Dân tộc Chứt
Dân tộc Co Dân tộc Cống Dân tộc Cơ Ho Dân tộc Cờ Lao
Dân tộc Cơ Tu Dân tộc Dao Dân tộc Ê Đê Dân tộc Giáy
Dân tộc Gia Rai Dân tộc Gié Triêng Dân tộc Hà Nhì Dân tộc H’mông
Dân tộc Hoa Dân tộc Hrê Dân tộc Kháng Dân tộc Khmer
Dân tộc Khơ Mú Dân tộc La Chí Dân tộc La Ha Dân tộc La Hủ
Dân tộc Lào Dân tộc Lô Lô Dân tộc Lự Dân tộc Mạ
Dân tộc Mảng Dân tộc M’Nông Dân tộc Mường Dân tộc Ngái
Dân tộc Nùng Dân tộc Ơ Đu Dân tộc Pà Thẻn Dân tộc Phù Lá
Dân tộc Pu Péo Dân tộc Ra Glai Dân tộc Rơ Măm Dân tộc Sán Chay
Dân tộc Sán Dìu Dân tộc Si La Dân tộc Tày Dân tộc Tà Ôi
Dân tộc Thái Dân tộc Thổ Dân tộc Xinh Mun Dân tộc Xơ Đăng
Dân tộc Xtiêng Dân tộc Kinh
Đánh giá bài này

Bài viết liên quan

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *