Dân tộc Tà Ôi có khoảng 35.000 người, còn có những tên gọi khác như: Pa Cô, Ta Ôi, Ba Hi, Pa Hi. Tiếng nói thuộc nhóm ngôn ngữ Môn-Khơme. Dân tộc Tà Ôi thuộc lớp cư dân sinh sống lâu đời ở vùng rừng núi Trường Sơn từ phía Tây Quảng Trị đến phía Tây Thừa Thiên Huế. Họ ở thành từng làng, trên các nhà sàn dài.
Trước đây có những nhà dài trên trăm mét, gồm nhiều đôi vợ chồng, con cái (gọi là các “bếp”). Giữa các bếp trong làng thường có quan hệ thân thuộc. Mái nhà uốn tròn ở hai đầu hồi, trên đỉnh dốc có Khau Cút nhô lên. Trong mỗi “bếp” (gia đình riêng) đều có buồng sinh hoạt riêng.

Dân tộc Tà Ôi
Đồng bào Tà Ôi trước đây làm nương rẫy là chính, phương thức canh tác là dùng gậy chọc lỗ tra hạt. Ngày nay, họ đã quen làm ruộng nước. Tuy vậy, việc săn bắt, hái lượm đến nay vẫn còn đóng vai trò quan trọng trong kinh tế đời sống.
Một số nơi có nghề dệt thổ cẩm, được các dân tộc láng giềng ưa chuộng. Đồ đan mây tre chủ yếu để tự cung tự cấp. Lương thực chủ yếu là gạo tẻ, ngoài ra họ còn ăn ngô, khoai, sắn, củ mài… vào những lúc giáp hạt.
Về y phục, nữ mặc váy ống loại ngắn và áo, hoặc váy dài che ngực trở xuống, nam đóng khố, mặc áo, thường hay ở trần. Trang sức phụ nữ là vòng tay, vòng chân, vòng cổ, khuyên tai bằng đồng, bạc, hay hạt cườm… Có tục cà răng và xăm trên da.
Phương tiện vận chuyển chính là gùi đeo trên lưng.
Dân tộc Tà Ôi sống theo tập tục cổ truyền, kính trọng người già, tin theo già làng. Mỗi làng gồm nhiều người của nhiều dòng họ khác nhau, mỗi dòng họ có người đứng đầu, có tục kiêng cữ riêng và tên gọi riêng.
Trai gái lớn lên sau khi đã cắt cụt 6 chiếc răng cửa hàm trên thì được tìm hiểu nhau, lấy vợ, lấy chồng. Hôn nhân do nhà trai chủ động. Nhà gái cho con đi lấy chồng được nhận của cưới gồm cồng, chiêng, ché, nồi đồng, trâu, lợn… Ngày đám cưới, cô dâu và chú rể phải làm lễ “đạp bếp” tại nhà bố mẹ cô gái để đánh dấu từ đây cô thực sự là người nhà chồng. Người Tà Ôi cho phép con trai cô lấy con gái cậu.
Phụ nữ trong thời kỳ mang thai phải kiêng khem nhiều. Người chết được quàn trong quan tài độc mộc, có tục chia của cho người chết. Vài năm sau khi chôn, tang gia tổ chức lễ cải táng, đưa vào chôn trong bãi mộ chung của làng, cạnh những người thân quá cố.
Mỗi dòng họ có một bàn thờ ở nhà trưởng họ. Mọi gia đình trong họ có thể tới đó làm lễ cúng khi bị ốm đau, gặp rủi ro, hoạn nạn… Nhiều làng còn thờ vật thiêng như hòn đá, cái vòng đồng, chiếc ché…
Lễ tết có nhiều lễ cúng liên quan đến sức khỏe, tài sản, dịch bệnh, làm rẫy… Lễ lớn có đâm trâu tế thần và trở thành ngày hội của làng. Đồng bào Tà Ôi có vốn văn nghệ phong phú như tục ngữ, ca dao, câu đố, truyện cổ, dân ca… Nhạc cụ gồm nhiều loại: cồng, chiêng, tù và sừng trâu, khèn 14 ống nứa, sáo 6 lỗ, nhị vừa kéo vừa điều khiển âm thanh bằng miệng, đàn Ta Lư..
54 Dân Tộc Việt Nam
TAG: Dân tộc Tà Ôi, Người Tà Ôi, Đồng bào Tà Ôi, Văn hóa truyền thống Tà Ôi, Lối sống của người Tà Ôi, Ngôn ngữ và thổ ngữ của người Tà Ôi, Nghệ thuật truyền thống Tà Ôi,
Phong tục và tập quán của đồng bào Tà Ôi, Lễ hội truyền thống Tà Ôi, Tín ngưỡng và tâm linh trong văn hóa Tà Ôi, Mối quan hệ xã hội và gia đình trong cộng đồng Tà Ôi,
Trang phục truyền thống Tà Ôi
Bài viết liên quan
Tra cứu nhanh 168 phường, xã mới của TP.HCM sau sáp nhập?
Tra cứu nhanh 168 phường, xã mới của TP.HCM sau sáp nhập – Bạn thuộc
Th12
Việt Nam chỉ còn 34 tỉnh, thành: Cú chuyển mình lịch sử của bộ máy hành chính
Việt Nam chỉ còn 34 tỉnh, thành: Cú chuyển mình lịch sử của bộ máy
Th12
Táo quân 2025 (Gặp nhau cuối năm 2025)
Táo Quân 2025 – Gặp Nhau Cuối Năm 2025: Phiên Bản Đặc Biệt trên VTVgo
Th12
Lễ Ông Táo chầu trời ngày 23 tháng chạp
Lễ Ông Táo chầu trời ngày 23 tháng chạp Lễ Ông Táo chầu trời, diễn
Th12
Văn Khấn Ngày Giỗ Đầu
Ngày giỗ đầu hay còn được gọi là “Tiểu Tường” là ngày giỗ (kỵ giỗ) đầu
Th12
Du lịch và văn hóa tỉnh Bình Dương
Du lịch và văn hóa tỉnh Bình Dương – Bình Dương là một tỉnh miền
Th12