Dân tộc Tày

Review DacSan
20/12/23
0
972 Views

Dân tộc Tày đến cư trú ở Việt Nam từ rất sớm, có thể từ khoảng nửa cuối thiên niên kỷ thứ nhất trước Công nguyên. Họ sống tập trung ở vùng thung lũng các tỉnh Đông Bắc, từ Quảng Ninh, Bắc Giang, Lạng Sơn, Cao Bằng, Bắc Kạn, Thái Nguyên, Hà Giang, Tuyên Quang, Lào Cai, Yên Bái. Người Tày sống thành từng bản rất đông đúc, có tới hàng trăm nóc nhà. Nhà ở là nhà sàn, có bộ vì kèo từ 4, 5, 6 hoặc 7 hàng cột. Nhà có 2 hoặc 4 mái, lợp ngói, lợp tranh hoặc lá cọ. Chung quanh nhà thưng ván gỗ hoặc liếp nứa.
Dân tộc Tày

Dân tộc Tày

Dân tộc Tày có dân số đứng hàng thứ hai, sau dân tộc Việt, khoảng 1,5 triệu người. Người Tày có các nhóm địa phương như: Thổ, Ngạn, Phén, Thu Lao và Pa Dí. Tiếng nói thuộc nhóm ngôn ngữ Tày-Thái.

Đồng bào Tày có truyền thống làm lúa nước từ lâu đời, thâm canh, có hệ thống thủy lợi tưới tiêu hợp lý, đặc biệt biết làm cọn (xe nước) để lấy nước tưới ruộng và sử dụng phân bón lúa. Họ có tập quán đập lúa ngoài đồng trong những máng gỗ, rồi dùng dậu (sọt nhỏ có quai) gánh thóc về nhà. Ngoài ra, người Tày còn trồng lúa nương, hoa màu và cây ăn quả. Chăn nuôi rất phát triển, với nhiều loại gia súc, gia cầm, nhưng phương thức nuôi thả đến nay vẫn còn phổ biến.

Người Tày có nhiều nghề thủ công, đặc biệt nghề dệt thổ cẩm với những hoa văn đẹp và độc đáo.

Trước đây đồng bào Tày thường ăn xôi đồ. Trong ngày lễ tết người Tày làm nhiều loại bánh trái như: bánh chưng, bánh giầy, bánh gai, bánh giò, bánh rán, bánh trôi, bánh khảo… Đặc biệt có loại bánh bột hấp nhân bằng trứng kiến và cốm làm bằng thóc nếp non hơ lửa hoặc rang rồi đem giã.

Phụ nữ mặc váy hoặc quần, có áo cánh ngắn bên trong và áo dài bên ngoài bằng vải bông tự dệt, màu chàm, không thêu thùa.

Nhóm Ngạn mặc áo dài ngắn hơn một chút, nhóm Phén mặc áo màu nâu, nhóm Thu Lao búi tóc quấn khăn thành hình chóp nhọn trên đỉnh đầu, nhóm Pa Dí đội mũ hình mái nhà.

Phương tiện vận chuyển đồ đạc thường là cho vào dậu để gánh, hoặc cho vào túi vải để mang trên vai.

Nam nữ được tự do yêu đương tìm hiểu, nhưng việc kết hôn do bố mẹ quyết định và có tục tin vào lá số của hai bên. Trước khi đi đến hôn nhân, nhà trai xin lá số của cô gái về để so với lá số của chàng trai xem có hợp nhau không. Sau khi cưới, cô dâu vẫn ở nhà bố mẹ đẻ cho đến khi sắp sinh nở mới về ở hẳn nhà chồng.

Trong thời gian người vợ có thai, cả hai vợ chồng đều phải kiêng cữ nhiều thứ. Sau khi trẻ sinh được 3 ngày phải cúng tẩy vía và lập bàn thờ bà mụ.

Khi có người chết, đám ma được tổ chức linh đình với nhiều nghi lễ. Sau khi chôn 3 năm làm lễ mãn tang, đưa hồn người chết lên bàn thờ tổ tiên.

Người Tày thờ cúng tổ tiên, thờ Thổ Công, Vua Bếp, Bà Mụ. Khi làm nhà mới phải chọn đất, xem hướng, chọn tuổi, chọn ngày giờ tốt.

Đồng bào Tày có nhiều ngày lễ tết: Tết Nguyên đán, Rằm tháng 7, Tết gọi hồn trâu bò (tổ chức vào mồng 6 tháng 6 âm lịch) và Tết Cơm mới, tổ chức trước khi thu hoạch.

Người Tày có nhiều làn điệu dân ca như Lượn, Phong Slư, Phuối Pác, Phuối rọi… Hát Lượn có nhiều loại: Lượn Cọi, Lượn Then… là lối hát giao duyên. Nhạc cụ có đàn tính

54 Dân Tộc Việt Nam

Dân tộc Ba Na Dân tộc Bố Y Dân tộc Brâu Dân tộc Bru-Vân Kiều
Dân tộc Chăm Dân tộc Chơ Ro Dân tộc Chu Ru Dân tộc Chứt
Dân tộc Co Dân tộc Cống Dân tộc Cơ Ho Dân tộc Cờ Lao
Dân tộc Cơ Tu Dân tộc Dao Dân tộc Ê Đê Dân tộc Giáy
Dân tộc Gia Rai Dân tộc Gié Triêng Dân tộc Hà Nhì Dân tộc H’mông
Dân tộc Hoa Dân tộc Hrê Dân tộc Kháng Dân tộc Khmer
Dân tộc Khơ Mú Dân tộc La Chí Dân tộc La Ha Dân tộc La Hủ
Dân tộc Lào Dân tộc Lô Lô Dân tộc Lự Dân tộc Mạ
Dân tộc Mảng Dân tộc M’Nông Dân tộc Mường Dân tộc Ngái
Dân tộc Nùng Dân tộc Ơ Đu Dân tộc Pà Thẻn Dân tộc Phù Lá
Dân tộc Pu Péo Dân tộc Ra Glai Dân tộc Rơ Măm Dân tộc Sán Chay
Dân tộc Sán Dìu Dân tộc Si La Dân tộc Tày Dân tộc Tà Ôi
Dân tộc Thái Dân tộc Thổ Dân tộc Xinh Mun Dân tộc Xơ Đăng
Dân tộc Xtiêng Dân tộc Kinh
Đánh giá bài này

Bài viết liên quan

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *