Dân tộc Si La

Review DacSan
19/12/23
0
967 Views

Dân tộc Si La có nguồn gốc từ Lào di cư sang Việt Nam, sống tập trung trong ba bản: Seo Hay, Si Thâu Chải và Nậm Xin thuộc huyện Mường Tè, tỉnh Lai Châu

Dân tộc Si La

Dân tộc Si La

Dân tộc Si La hiện còn khoảng 840 người. Họ còn có những tên gọi khác như: Cù Dề Sừ, Kha Pẻ. Tiếng nói thuộc nhóm ngôn ngữ Tạng-Miến. Dân tộc Si La có nguồn gốc từ Lào di cư sang Việt Nam, sống tập trung trong ba bản: Seo Hay, Si Thâu Chải và Nậm Xin thuộc huyện Mường Tè, tỉnh Lai Châu. Họ ở nhà trệt gồm hai gian và hai chái nhỏ, có hiên và một cửa ra vào.

Bàn thờ đặt ở góc trái trong cùng, trên đặt một chén rượu nhỏ và một quả bầu khô. Bếp chính ở giữa nhà với ba ông đầu rau bằng đá. Đối với Dân tộc Si La, ba ông đầu rau rất quan trọng, vì họ tin rằng đó là nơi mà tổ tiên thường ở trông coi bếp lửa.
Ngày nay, đồng bào Si La đã biết làm lúa nước, trồng ngô trên nương rẫy. Tuy vậy, kinh tế săn bắt và hái lượm vẫn còn đóng vai trò quan trọng trong đời sống.

Phụ nữ Si La mặc váy hở bụng, áo cài khuy nách phải, nổi bật là vạt ngực gắn đầy những đồng xu bạc, xu nhôm. Cổ và tay áo được trang trí bằng cách gắn lên những đường vải màu khác nhau. Váy màu đen chàm, khi mặc giắt ra phía sau. Tùy theo lứa tuổi mà khăn đội đầu có khác nhau. Có tục nhuộm răng, nam nhuộm đỏ, nữ nhuộm đen.

Dân tộc Si La ăn cơm nếp và cơm tẻ. Khi vận chuyển đồ đạc dùng gùi mang, họ còn biết dùng thuyền, mảng để đi lại trên sông.

Tính cộng đồng làng bản rất cao. Họ thường giúp nhau trong việc làm nhà mới, ma chay…
Quan hệ dòng họ khá chặt chẽ. Dân tộc Si La có nhiều họ khác nhau nhưng họ Hù, họ Pờ nhiều hơn cả. Đứng đầu dòng họ là người cao tuổi nhất, không phân biệt dòng trưởng hay dòng thứ.

Về hôn nhân, trai gái yêu nhau được quan hệ tự do, người con trai được ngủ qua đêm tại nhà người yêu của mình. Có tục cưới hai lần, lần đầu đón cô dâu về nhà chồng, lần thứ hai sau đó một năm, nhà trai trao tiền cưới cho nhà gái.
Phụ nữ sinh con ở trong nhà, đẻ ngồi. Nhau được đựng trong ống nứa, phủ một lớp tro bếp lên trên, dựng ở góc bếp cho tới ngày đặt tên con. Họ thường mời bà già trong bản tới đặt tên để mong con sống lâu. Sau khi đặt tên, bà già này lấy lá chuối bịt ống đựng nhau, nếu là con trai buộc 9 nuộc lạt, con gái 7 nuộc, rồi đem chôn. Sau khi đặt tên 3 ngày tiến hành cúng hồn cho trẻ.

Người chết được quàn trong một khúc cây gỗ bổ đôi, khoét rỗng. Sau khi chôn, gia đình tang chủ dội nước tắt bếp. Mang hết than củi cũ ra ngoài nhà rồi mới đốt bếp tiếp. Mộ những người cùng họ thường ở gần nhau.
Con cái thờ bố mẹ đã mất. Mỗi bàn thờ phải có chén thờ lấy từ chén cúng cơm bố mẹ trong ngày làm ma. Nhà có bao nhiêu con trai thì có bấy nhiêu chén và tất cả để lên bàn thờ. Thờ tổ tiên từ đời ông trở lên, do trưởng họ đảm nhận.

Hằng năm vào Tết Năm mới và Tết Cơm mới có lễ cúng tổ tiên. Tết Năm mới vào đầu tháng 12 âm lịch, Tết Cơm mới sau vụ thu hoạch.
Dân tộc Si La có hát giao duyên nam nữ và hát sử ca.

54 Dân Tộc Việt Nam

Dân tộc Ba Na Dân tộc Bố Y Dân tộc Brâu Dân tộc Bru-Vân Kiều
Dân tộc Chăm Dân tộc Chơ Ro Dân tộc Chu Ru Dân tộc Chứt
Dân tộc Co Dân tộc Cống Dân tộc Cơ Ho Dân tộc Cờ Lao
Dân tộc Cơ Tu Dân tộc Dao Dân tộc Ê Đê Dân tộc Giáy
Dân tộc Gia Rai Dân tộc Gié Triêng Dân tộc Hà Nhì Dân tộc H’mông
Dân tộc Hoa Dân tộc Hrê Dân tộc Kháng Dân tộc Khmer
Dân tộc Khơ Mú Dân tộc La Chí Dân tộc La Ha Dân tộc La Hủ
Dân tộc Lào Dân tộc Lô Lô Dân tộc Lự Dân tộc Mạ
Dân tộc Mảng Dân tộc M’Nông Dân tộc Mường Dân tộc Ngái
Dân tộc Nùng Dân tộc Ơ Đu Dân tộc Pà Thẻn Dân tộc Phù Lá
Dân tộc Pu Péo Dân tộc Ra Glai Dân tộc Rơ Măm Dân tộc Sán Chay
Dân tộc Sán Dìu Dân tộc Si La Dân tộc Tày Dân tộc Tà Ôi
Dân tộc Thái Dân tộc Thổ Dân tộc Xinh Mun Dân tộc Xơ Đăng
Dân tộc Xtiêng Dân tộc Kinh
Đánh giá bài này
Tags:

Bài viết liên quan

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *