Dân tộc Xơ Đăng

Review DacSan
19/12/23
0
988 Views

Dân tộc Xơ Đăng hiện có gần 127.000 người, có những tên gọi khác như: Xê Đăng, Kmrăng, Con Lan, Brila. Các nhóm địa phương còn có những tên riêng như: Xơ Teng, Tơ Đrá, Mnâm, Ca Dong, Ha Lăng, Tà Trĩ, Châu. Tiếng Xơ Đăng thuộc nhóm ngôn ngữ Môn-Khơme.

Dân tộc Xơ Đăng

Dân tộc Xơ Đăng

Dân tộc Xơ Đăng đã sinh sống lâu đời ở vùng Bắc Tây Nguyên, tập trung chủ yếu ở Kon Tum và miền Tây Quảng Nam, Quảng Ngãi. Họ sống trên những nhà sàn dài, thường là cả đại gia đình. Nhà trong làng được bố trí theo tập quán từng vùng. Có nơi nhà ở quây quanh ngôi nhà rông ở giữa; có nơi dựng theo triền núi, không có nhà rông.

Một số gia đình có nguồn sống chính là làm lúa nước, như nhóm Mnâm, nhưng phương thức canh tác còn theo lối sơ khai như làm đất bằng cách lùa đàn trâu xuống giẫm ruộng, dùng lưỡi cuốc bằng gỗ (nay đã thay bằng sắt)… Số còn lại sống chủ yếu nhờ nương rẫy, dùng gậy chọc lỗ tra hạt, thu hoạch dùng tay tuốt lúa. Ngoài ra họ còn trồng ngô, kê, sắn, bầu, bí, thuốc lá, chuối, mía… Người Xơ Đăng có tập quán ăn trầu, nam nữ đều hút thuốc lá.

Dân tộc Xơ Đăng chăn nuôi chủ yếu trâu, dê, lợn, gà… Phương thức săn bắt và hái lượm vẫn đóng vai trò quan trọng trong hoạt động kinh tế.

Nghề dệt vải thủ công có ở nhiều vùng. Nghề rèn phát triển ở nhóm Tơ Đrá. Đan lát khá tinh xảo.
Đồng bào Xơ Đăng hằng ngày ăn cơm tẻ, thích uống rượu cần. Nam đóng khố, ở trần; nữ mặc váy, áo. Trời lạnh quàng thêm tấm vải ở ngoài. Xưa kia, người Xơ Đăng dùng vỏ cây che thân. Phương tiện vận chuyển thường là dùng gùi mang sau lưng.

Gùi có nhiều loại: đan thưa, đan dày, có nắp, không nắp, có hoa
văn…
Đứng đầu làng là một “già làng”. Làng là sở hữu chung, trên đó mỗi người có quyền sở hữu ruộng vườn, nương rẫy.

Giữa các vùng khác nhau, hôn nhân cũng khác nhau. Điểm giống nhau là sau khi cưới, vợ chồng cùng cư trú luân phiên mỗi bên một số năm. Thường chỉ khi bố mẹ một bên qua đời mới ở cố định. Trong lễ cưới có tục cô dâu chú rể đưa đùi gà cho nhau ăn,
đưa rượu cho nhau uống, cùng ăn một nắm cơm…

Khi có người chết, cả làng đến chia buồn với tang chủ và giúp việc đám ma. Những người chết bình thường (không do tai nạn, chiến tranh…) được chôn trong bãi mộ chung của làng. Lễ tục cụ thể giữa các nhóm người Xơ Đăng cũng không giống nhau.

Dân tộc Xơ Đăng tin vào các vị thần linh như: Thần Sấm sét, Thần Mặt trời, Thần Núi, Thần Lúa, Thần Nước… Trong đời sống canh tác rẫy có nhiều lễ nghi cúng bái nhằm cầu mùa, cầu an, tránh thất bát.

Lễ tết quan trọng nhất là lễ cúng Thần Nước vào dịp sửa máng nước hằng năm. Ngoài ra còn có lễ cúng vào những dịp đầu năm, mở đầu vụ trỉa lúa, khi lúa đến kỳ con gái, khi thu hoạch, lễ cúng khi ốm đau, dựng nhà rông…

Người Xơ Đăng có nhiều loại nhạc cụ: đàn, nhị, sáo dọc, khoong bút, trống, chiêng, cồng, tù và, ống gõ, dàn ống nứa hoạt động nhờ sức nước. Họ có nhiều điệu hát: hát đối đáp của trai gái, hát ru. Có nhiều điệu múa dành riêng cho nam, nữ khác nhau, cũng có điệu múa chung cho cả nam nữ.

54 Dân Tộc Việt Nam

Dân tộc Ba Na Dân tộc Bố Y Dân tộc Brâu Dân tộc Bru-Vân Kiều
Dân tộc Chăm Dân tộc Chơ Ro Dân tộc Chu Ru Dân tộc Chứt
Dân tộc Co Dân tộc Cống Dân tộc Cơ Ho Dân tộc Cờ Lao
Dân tộc Cơ Tu Dân tộc Dao Dân tộc Ê Đê Dân tộc Giáy
Dân tộc Gia Rai Dân tộc Gié Triêng Dân tộc Hà Nhì Dân tộc H’mông
Dân tộc Hoa Dân tộc Hrê Dân tộc Kháng Dân tộc Khmer
Dân tộc Khơ Mú Dân tộc La Chí Dân tộc La Ha Dân tộc La Hủ
Dân tộc Lào Dân tộc Lô Lô Dân tộc Lự Dân tộc Mạ
Dân tộc Mảng Dân tộc M’Nông Dân tộc Mường Dân tộc Ngái
Dân tộc Nùng Dân tộc Ơ Đu Dân tộc Pà Thẻn Dân tộc Phù Lá
Dân tộc Pu Péo Dân tộc Ra Glai Dân tộc Rơ Măm Dân tộc Sán Chay
Dân tộc Sán Dìu Dân tộc Si La Dân tộc Tày Dân tộc Tà Ôi
Dân tộc Thái Dân tộc Thổ Dân tộc Xinh Mun Dân tộc Xơ Đăng
Dân tộc Xtiêng Dân tộc Kinh    
Đánh giá bài này

Bài viết liên quan

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *