Du lịch và văn hóa Thành phố Đà Nẵng

Review DacSan
01/01/24
0
942 Views

Thành phố Đà Nẵng nằm ở miền Trung, trên trục đường bộ, đường sắt Bắc-Nam. Phía Bắc giáp Thừa Thiên-Huế, phía Tây và Nam giáp Quảng Nam, phía Đông giáp biển. Đà Nẵng có diện tích tự nhiên 1.256,2 km2, dân số gần 750.000 người, là nơi sinh sống của các dân tộc Kinh, Hoa. Thành phố gồm 5 quận nội thành: Hải Châu, Thanh Khê, Sơn Trà, Ngũ Hành Sơn, Linh Chiểu và hai huyện: Hoà Vang, huyện đảo Hoàng Sa.

Du lịch và văn hóa Thành phố Đà Nẵng
Du lịch và văn hóa Thành phố Đà Nẵng

Địa hình Đà Nẵng khá đa dạng. Phía Bắc là đèo Hải Vân sừng sững. Phía Tây Bắc là vùng núi cao của huyện Hoà Vang với ngọn núi Mang cao 1.708 m và núi Bà Nà cao 1.478m. Phía Đông là bán đảo Sơn Trà hoang sơ với những bãi tắm tuyệt đẹp, chạy dài cho đến bãi biển Non Nước. Phía Nam có 5 ngọn núi Ngũ Hành Sơn: Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ. Ngoài khơi có quần đảo Hoàng Sa.

Đà Nẵng nằm trong khu vực khí hậu nhiệt đới gió mùa, có hai mùa rõ rệt: mùa mưa từ tháng 9 đến tháng 12, mùa khô từ tháng 1 đến tháng 8. Nhiệt độ trung bình cả năm khoảng 28-290C. Tháng 9 và tháng 10 thường là thời gian bão lũ.

ban do thanh pho da nang

Du lịch và văn hóa Thành phố Đà Nẵng

Thành phố Đà Nẵng mới thành lập năm 1888. Từ xa xưa, Đà Nẵng đã có hải cảng, là một trong những hải cảng quan trọng của Việt Nam. Ngày nay Đà Nẵng là một trung tâm kinh tế, một thành phố lớn nhất, năng động nhất ở các tỉnh duyên hải miền Trung. Đà Nẵng không chỉ có mối liên kết gắn bó với Quảng Nam mà còn với cả vùng Tây Nguyên rộng lớn, với các tỉnh miền Trung, với Lào và vùng Đông Bắc Campuchia như Môndônkiari và Natakiari.

Giao thông Đà Nẵng hết sức thuận lợi, ngoài đường bộ, đường sắt Bắc Nam, sân bay quốc tế, Đà Nẵng còn có cảng biển nước sâu Tiên Sa và 9 cầu cảng dọc sông Hàn. Đến với thành phố biển này, du khách sẽ có dịp đi thăm các danh lam thắng cảnh: Ngũ Hành Sơn, núi Bà Nà, đèo Hải Vân, thăm các di tích chùa chiền miếu mạo và thỏa thích tắm biển.

THẮNG CẢNH THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

Đà Nẵng, thành phố bên sông Hàn

Sau năm 1741, Nhà nước Đại Việt chính thức tiếp nhận vùng đất mới Hàn Thị vào cương thổ của mình. Trong suốt dặm dài lịch sử, vùng đất mới Hàn Thị vững bước đi lên cùng đất Việt, và nay đã trở thành thành phố Đà Nẵng loại 1, trẻ trung đầy năng động, một trung tâm kinh tế lớn của khúc ruột miền Trung.

Đà Nẵng, thành phố bên sông Hàn
Đà Nẵng, thành phố bên sông Hàn

Đà Nẵng, thành phố nằm soi bóng bên sông Hàn đầy thơ mộng, ngày một đổi thịt thay da với những đại lộ khang trang sạch đẹp ven sông, những chiếc cầu văng dây bắc qua sông Hàn, và những con tàu ngược xuôi cập cảng.

Hải Vân quan

Còn có tên gọi là Ải Vân. Đây là một đoạn đèo uốn lượn trải dài theo sườn núi Hải Vân trên 20km, từ vịnh Lăng Cô, Thừa Thiên-Huế đến Linh Chiểu, Đà Nẵng.

Hải Vân là ngọn đèo cao nhất Việt Nam (496m), đầy hiểm trở, một bên là biển sâu thăm thẳm, một bên là núi non như một bức tường thành dựng đứng. Bức tường thiên nhiên quan trọng này là một lá chắn ngăn các đợt gió mạnh từ phương Bắc thổi về. Nhờ vậy mà các tỉnh từ Đà Nẵng trở vào quanh năm ấm áp không bị ảnh hưởng lớn của các đợt gió mùa đông.

Hải Vân quan (Ải Vân)
Hải Vân quan (Ải Vân)

Hải Vân là đỉnh cuối cùng của dãy Trường Sơn hùng vĩ đâm ra biển. Trên đỉnh đèo phân cách giữa hai tỉnh Thừa Thiên-Huế và Đà Nẵng, còn lưu di tích cửa ải qua đèo và thành lũy đắp ngang. Cửa hướng về Thừa Thiên-Huế đề 3 chữ “Hải Vân quan”, cửa nhìn xuống đất Đà Nẵng đề 6 chữ “Thiên hạ đệ nhất hùng quan”.

Đứng trên đỉnh đèo Hải Vân, ở độ cao 496m, du khách có thể ngắm nhìn toàn cảnh thành phố Đà Nẵng và cảnh thanh bình của làng chài Lăng Cô nằm ngay dưới chân đèo phía Bắc. Để tránh tai nạn giao thông (hằng năm ở đây đã xảy ra hàng trăm vụ lớn nhỏ, làm thiệt mạng rất nhiều người), Nhà nước đã cho xây đường hầm ngầm qua đèo.

Ngũ Hành Sơn

Ngũ Hành Sơn là một cụm gồm 5 ngọn núi đá hoa cương cao, nằm cạnh nhau sừng sững bên bờ biển Đông quanh năm lộng gió. Cũng vì những ngọn núi này nằm sát bờ biển, nên nhân dân quen gọi là núi Non Nước. Từ xa xưa, dựa vào hình dáng, Ngũ Hành Sơn còn có các tên gọi là Ngũ Uẩn Sơn, Ngũ Chỉ Sơn. Ngũ Hành Sơn là một trong những biểu tượng đáng tự hào của Đà Nẵng, cách thành phố khoảng 8km về phía Đông Nam.

Ngũ Hành Sơn
Ngũ Hành Sơn

Đầu thế kỷ XIX, vua Gia Long ngự du qua đây, cảm phục trước vẻ đẹp của tạo hóa, nhà vua đã đặt tên cho cụm núi này là Ngũ Hành Sơn và đặt tên cho từng ngọn núi theo thuyết Ngũ hành: Kim Sơn, Mộc Sơn, Thủy Sơn, Hỏa Sơn, Thổ Sơn (riêng Hỏa Sơn có 2 ngọn núi gần kề nên được gọi là Dương Hỏa Sơn và Âm Hỏa Sơn) và tên gọi chung cho quần thể là Ngũ Hành Sơn. Ngũ Hành Sơn có nhiều hang động kỳ khu cũng được nhà vua ban tên: động Huyền Không, Hóa Nghiêm, Tàng Chân, Vân Nguyệt… Đây đó trên núi có những ngôi chùa cổ thâm nghiêm được sắc ban Quốc tự (chùa của đất nước) như: chùa Tam Thai, chùa Linh Ứng, gắn liền với những truyền thuyết linh hiển xa xưa.

Vào những ngày hè, du khách có dịp bước theo 108 bậc thang đá lên ngọn Thủy Sơn, ngắm nhìn dòng Trường Giang hiền hoà uốn lượn từ Vọng Giang đài xuôi về biển.

Thủy Sơn nằm trên một khoảnh đất rộng 15ha, có hình dáng một khối đá dựng đứng, đỉnh núi kéo dài chia thành 3 ngọn: Thượng Thai, Trung Thai và Tam Thai. Trong ngọn Thủy Sơn có nhiều hang động đẹp nổi tiếng như: động Huyền Không, Tàng Chân, Vân Thông, Linh Nham…

Động Huyền Không

Nằm bên phải, phía sau chùa Thiên Thai. Ở ngay cửa động có hai pho tượng ông Thiện và ông Ác đứng chống kiếm uy nghi. Bước vào lòng động, du khách sững sờ trước vẻ đẹp của luồng ánh sáng huyền ảo, mong manh, lung linh từ trên cao chiếu xuống như một dải lụa trắng mềm mại. Vách đá có nhiều màu sắc huyền ảo.

Động Huyền Không thoáng rộng. Nổi bật trên vách động là pho tượng Phật đang trầm tư trong một thế giới đầy biến động và nhiều bàn thờ khói hương nghi ngút.

Động Tàng Chân

Được tìm thấy từ thời những năm Cảnh Hưng (1740-1786) đời nhà Lê, nằm phía sau chùa Linh Ứng, thuộc ngọn Thủy Sơn. Động gồm 6 hang động nằm gần nhau, tạo thành một hệ thống hang động liên hoàn. Động chính như một toà lâu đài đồ sộ có chiều dài 10m, chiều rộng 7m, có cửa hang thông lên trời gọi là cửa “Thiên Long cốc”. Nhờ vậy, động luôn luôn thoáng mát. Từ cửa Thiên Long Cốc, gió và ánh nắng luồn vào hang tạo thành cảnh trí huyền ảo. Giữa động là miếu thờ Thái Thượng Lão Quân, bên trái thờ Bát Bộ Kim Cang, bên phải thờ thần Chiêm Thành.

Ngoài động chính còn 5 hang động là: động Tam Thanh, hang Gió, động Chiêm Thành, động Bàn Cờ và hang Ráy. Động Tam Thanh thờ 3 vị Thánh: Thượng Thanh, Trung Thanh và Hạ Thanh. Tiếp đó là hang Gió quanh năm lộng gió. Động Chiêm Thành có hình bán nguyệt, thờ các vị thần Chiêm Thành như thần Shiva, Vishnu… Từ động chính leo lên khoảng 5m là hang Ráy, có nhiều khối đá màu sắc lung linh. Trong động Bàn Cờ có nhiều khối đá mặt trên bằng phẳng như những bàn cờ. Truyền thuyết kể rằng, xưa kia các vị tiên thường xuống ngồi đánh cờ nơi đây.

Động Quan Âm

Ở phía Nam ngọn Kim Sơn, đối diện với cửa động là khối thạch nhũ hình Quan Thế Âm Bồ Tát, cao bằng người thật, tay phải tượng nâng bình nước Cam Lộ, chân đứng trên đầu rồng đang cuộn mình giữa sóng nước. Một lớp đá mỏng lấp lánh như kim tuyến chạy từ bờ vai tượng xuống thân như tấm áo cà sa trông rất đẹp. Phía sau là Thiện Tài Đồng Tử, phía trên bên trái là chim Khổng tước, hai cánh xòe rộng, bên phải là khóm trúc, phía sau tượng là đám mây ngũ sắc. Vì vậy động có tên là động Quan Âm.

Động Huyền Vi

Nằm phía sau lưng chùa Linh Sơn thuộc ngọn Hỏa Sơn. Năm 1953, Hội Phật giáo xã Hoà Hải đã phát hiện ra động này. Do sự xâm thực của nước và gió theo thời gian, động Huyền Vi đã trở thành một tác phẩm nghệ thuật khổng lồ với những hình thù kỳ thú. Ngay ở cửa hang là chú cá sấu đá thiên tạo. Trên các vách đá của động Huyền Vi là vô số những mảng “điêu khắc tự nhiên” hình cây cỏ, muông thú… Nơi này là “ngư ông ngồi câu” bên bờ nước trong xanh. Bên kia là 5 phiến đá được nghệ nhân Nguyễn Chất ngẫu hứng tạo thành 5 pho tượng Phật. Còn kia là giếng nước, được gọi là tuyền cầm. Cuối hang có chiếc “trống đất”, lấy gậy gõ xuống nền, “trống đất” sẽ phát ra tiếng.

Bãi biển Non Nước

Bãi biển Non Nước với dải cát trắng mịn chạy dài 5km, phía Nam giáp biển Điện Ngọc, Bắc giáp bãi biển Bắc Mỹ An. Bãi biển Non Nước nằm kề với Ngũ Hành Sơn. Đây là bãi tắm có độ dốc thoai thoải, sóng êm, bốn mùa nước trong xanh. Một bãi tắm lý tưởng, cuốn hút du khách, là nơi nghỉ dưỡng để lấy lại sức khỏe sau những ngày lao động mệt mỏi. Bãi biển Non Nước đặc biệt có các loài rong tảo quí hiếm như rong câu chỉ vàng, rong câu chân vịt, có giá trị xuất khẩu cao.

Bán đảo Sơn Trà

Bán đảo Sơn Trà được mệnh danh là “mái nhà xanh” của thành phố Đà Nẵng, cách thành phố khoảng 13km. Bán đảo Sơn Trà có chiều dài 15km, chỗ rộng nhất 5km, nơi hẹp nhất 1,5km, đỉnh núi cao nhất 696m. Trên bán đảo hiện còn 4.370ha rừng nguyên sinh, nơi giao lưu hai hệ động thực vật tiêu biểu của hai miền Nam-Bắc. Rừng nguyên sinh Sơn Trà là nơi sinh sống của họ hàng nhà khỉ. Trong đó có khoảng 400 chú voọc chà và nhiều khỉ đuôi dài, gà tiền mặt đỏ…

Bán đảo Sơn Trà là chiếc bình phong khổng lồ vươn mình ra biển che chắn gió bão cho thành phố Đà Nẵng thơ mộng. Từ độ cao trên bán đảo nhìn xuống, du khách sẽ thấy quanh đây là những bãi tắm xinh đẹp nổi tiếng như bãi Tiên Sa, bãi Bụt, bãi Xếp, bãi Nam… nối tiếp nhau với bãi cát trắng chạy theo hình vòng cung ôm lấy bán đảo.

Núi Bà Nà

Một ngọn núi thuộc huyện Hoà Vang, cách thành phố Đà Nẵng 38km về phía Tây Nam. Với diện tích 2,6ha, khu trung tâm du lịch Bà Nà là trên đỉnh núi Chúa, ở độ cao 1.478m so với mặt biển. Bà Nà với những cánh rừng nguyên sinh với hệ động thực vật phong phú. Đường lên núi quanh co gấp khúc dài trên 15km. Trên đỉnh Bà Nà địa hình bằng phẳng như một vùng cao nguyên thu nhỏ. Quanh năm mát mẻ, nhiệt độ trung bình cả năm là chỉ xê dịch từ 17 đến 200C. Chính nơi đây, vào năm 1920 người Pháp đã chọn làm nơi nghỉ mát và cho xây nhiều biệt thự.

Bà Nà Hills Đà Nẵng - Thiên đường du lịch Nghỉ dưỡng
Bà Nà Hills Đà Nẵng – Thiên đường du lịch Nghỉ dưỡng

Những biệt thự ấy đã bị phá hủy trong chiến tranh. Nói về tên gọi Bà Nà, có người giải thích Bà là thành tố chỉ những vật to lớn, linh thiêng, Nà chỉ khu đất rộng, bằng phẳng ở trên đỉnh núi. Nhưng cũng có cách giải thích khác, Bà Nà là tên gọi tắt của bà Pô Nagar tức bà Thiên Y A Na Thánh Mẫu. Như vậy tên Bà Nà có liên quan đến miền đất vốn xưa thuộc Vương quốc Chămpa. Ở Bà Nà trong một ngày, bạn đã có thể cảm nhận được 4 mùa: sáng là mùa xuân, trưa là hạ, chiều là thu với ánh nắng vàng óng, và tối là đông, với tiết trời se lạnh. Bà Nà có những rừng cây tuyệt đẹp với những đồi thông xanh ngắt, phấn thông vàng. Một điều ít thấy ở những vùng núi cao nơi khác là, ở Bà Nà mây chỉ nằm lơ lửng lưng chừng núi, trong khi đỉnh núi luôn luôn quang đãng. Bà Nà có suối Nai, thác Cầu Vồng, đồi Vọng Nguyệt, với nhiều loài động thực vật quý hiếm. Qua khảo sát bước đầu, ở đây có 544 loài thực vật, 256 loài động vật, trong đó có những loài được ghi trong sách đỏ Việt Nam. Ngày nay, với sự đầu tư của ngành du lịch Đà Nẵng, nhiều biệt thự, nhà nghỉ, khách sạn, nhà hàng mọc lên với đầy đủ tiện nghi, cùng với hệ thống cáp treo hiện đại, giúp du khách có điều kiện khám phá vùng đất lý tưởng này.

Sông Hàn

Sông Hàn vốn đã đẹp và nên thơ, càng thêm đẹp mỗi khi đêm về, để lại trong lòng du khách một ấn tượng khó phai mờ. Hoàng hôn buông xuống cũng là lúc người dân thành phố lũ lượt kéo đến bờ sông Hàn đón gió từ khơi xa. Gió sông đưa về lồng lộng, một không gian mát rượi phủ lên bến bờ, khiến người dân thành phố quên đi cái nắng gay gắt của xứ Quảng miền Trung.

Cầu Sông Hàn
Cầu Sông Hàn

Cầu sông Hàn, cây cầu văng dây sừng sững là thế, mà về đêm trở nên mềm mại làm sao. Với dãy đèn cao áp lung linh ánh nước càng làm cho cầu sông Hàn trở nên duyên dáng, diệu kỳ.

Vào những đêm trăng sáng, mặt sông Hàn óng ánh như được dát một lớp bạc trắng. Ánh trăng trùm lên vạn vật mờ mờ tỏ tỏ, những vật thân quen giờ bỗng trở nên xa lạ trong ánh trăng khuya. Trong không gian yên ắng của trời đêm, nghe đâu đây tiếng mái chèo khua nước, vỗ mạn thuyền xa, xa mãi… Cuộc sống của người dân chài trên sông Hàn giản dị theo dòng nước trôi đi cùng năm tháng.

Làng đá mỹ nghệ Non Nước

Sẽ là thiếu sót khi viết về Đà Nẵng mà không nhắc đến làng đá mỹ nghệ, những con người đã thổi hồn vào đá. Làng đá mỹ nghệ Non Nước đã được ông Huỳnh Bá Quát, người gốc Thanh Hóa, tạo lập vào thế kỷ XVIII. Từ một khối đá vô cảm, qua bàn tay tài hoa khéo léo của nghệ nhân truyền cảm hứng vào tác phẩm, đã làm cho đá trở nên có hồn, mang hơi thở của sự sống. Theo từng nhát đẽo tỉ mỉ của nghệ nhân, những phong cảnh làng quê trù phú, những con vật quen thuộc dần dần hiện ra với những nét sống động, làm say đắm lòng người. Vâng, đó chính là tác phẩm nghệ thuật đá của làng nghề mỹ nghệ Non Nước.

Làng cổ Phong Nam

Đến Đà Nẵng mà chưa có dịp đi thăm làng cổ Phong Nam, quả là một thiệt thòi. Làng nằm gần quốc lộ 1A, cách Đà Nẵng chỉ khoảng 10km về phía Tây Nam. Phong Nam là một làng quê đến nay vẫn còn giữ được những nét đặc trưng của một làng quê truyền thống Việt Nam.
Nơi đây, còn giữ được nhiều di tích cổ cách nay hàng thế kỷ, như nhà thờ tổ, chùa chiền, đền miếu, giếng nước cổ. Đặc biệt trong làng còn nhiều ngôi nhà cổ.

DI TÍCH THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

Chùa Phổ Đà

Chùa nằm ở số 332 đường Phan Chu Trinh, do Hoà thượng Thích Tôn Thắng khởi dựng năm 1927, kiến trúc theo chữ “khẩu” (口). Tại chính điện thờ 3 pho tượng bằng đồng, đúc năm 1947. Hai bên chính điện là nhà khách, nhà thiền và giảng đường. Trước chính điện là khoảng sân rộng 500m2, có hồ nước hình bầu dục, giữa hồ đặt tượng Quan Thế Âm cao hơn 3m, đứng trên hòn non bộ. Hiện chùa Phổ Đà là trụ sở của trường Phật học cơ bản, dành cho các chức sắc, tín đồ Phật giáo.

Chùa Pháp Lâm

Nằm ở số 500, đường Ông Ích Khiêm. Chùa Pháp Lâm do một nhóm cư sĩ trí thức thuộc Chi hội Đà Nẵng của Hội An Nam Phật học đứng ra xây dựng năm 1936, trên một mảnh đất rộng khoảng 3.000m2. Chùa xây theo phong cách kiến trúc Á Đông.

Năm 1970, chùa được trùng tu. Trước đây, chùa là trụ sở của Chi hội An Nam Phật học tại Đà Nẵng. Từ sau năm 1975, chùa là trụ sở của tỉnh hội Phật giáo Đà Nẵng.

Chùa Tam Bảo

Tọa lạc tại số 327 đường Phan Chu Trinh, được khởi dựng vào những năm 1953-1963, và được trùng tu lớn năm 1990. Chùa có 5 ngọn tháp cao vút do những người thợ có tay nghề cao của Quảng Nam-Đà Nẵng pha màu trước khi nung ngói, tạo nên 5 màu sắc biểu tượng của Phật giáo. Chùa gồm chính điện tầng trên thờ Phật tổ duy nhất. Cạnh điện thờ là tủ sách kinh điển gồm đủ Tam tạng (Kinh tạng, Luật tạng và Luận tạng). Tầng dưới là giảng đường. Tháp chùa là nơi cất giữ xá-lợi Phật.

Trước cửa chùa có 2 cây bồ đề là cây con được lấy từ cây bồ đề ở Bồ đề Đạo trường bên Ấn Độ (nơi đức Phật Thích-ca thành đạo). Phía sau chùa có 2 cây sa-la lấy từ vườn Lam-tì-ni (Lumbini, nơi đức Phật đản sanh). Chùa Tam Bảo là ngôi chùa thuộc Phật giáo Nam tông, được truyền từ Nam Ấn Độ. Đây là ngôi chùa có sức cuốn hút du khách phương Tây sang Việt Nam nghiên cứu Phật giáo.

Chùa Linh Ứng

Nằm trên sườn Thủy Sơn trông ra biển. Chùa được dựng từ thời vua Minh Mạng. Trải qua năm tháng và chiến tranh, chùa bị hư hỏng nặng. Năm 1970, tăng ni Phật tử góp công, góp của xây lại chùa mới như ngày nay. Chùa còn lưu giữ bộ tượng La Hán bằng đá trắng. Bên phải chùa là Vọng Hải Đài. Đứng trên Vọng Hải Đài có thể nhìn thấy rõ biển Non Nước.

Bảo tàng Chàm

Thành lập năm 1915, mang tên nhà sáng lập người Pháp Henri Pacmanchi, về sau đổi tên là Bảo tàng Chàm. Kiến trúc nhà Bảo tàng Chàm mang phong cách tháp Chàm. Đây là nơi trưng bày bộ sưu tập hiện vật điêu khắc Chàm bằng đá và đất nung có niên đại từ thế kỷ VII đến thế kỷ XV. Mỗi phòng trưng bày mang tên địa phương nơi tìm thấy hiện vật. Từ cổng đi vào, phòng bên trái trưng bày các công trình điêu khắc Chàm tìm thấy ở Thánh địa Mỹ Sơn (Quảng Nam), gồm các tượng lớn của thần Shiva, tượng Nữ thần Uma, tượng chạm nổi cảnh sinh hoạt các tầng lớp tăng lữ, quý tộc. Phòng tiếp theo là các cảnh sinh hoạt người người Chăm ở kinh thành Trà Kiệu (Quảng Nam).

Sau phòng Trà Kiệu là nơi trưng bày các tượng Phật, tượng hộ pháp được tìm thấy ở Đồng Dương. Phần bên phải Bảo tàng là những di tích phát hiện được ở Chà Bàn (Bình Định) với các tượng thần, vũ nữ, nhạc công…

LỄ HỘI THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

Đà Nẵng nằm trên vùng đất cổ gắn liền với nền văn hóa Sa Huỳnh thuộc thời kỳ đồ sắt, cách nay khoảng 3.000 năm. Những cư dân ban đầu chính là tổ tiên của người Chăm, đã dựng lên Vương quốc Chămpa, một thời phát triển rực rỡ.

Đà Nẵng là vùng đất giàu truyền thống văn hóa. Nơi đây sản sinh ra nhiều nhà văn hóa lớn, nhiều nhà yêu nước nổi tiếng mà tác phẩm, tên tuổi mãi mãi được trân trọng. Đó là Trần Quý Cáp, Hoàng Diệu, Thái Phiên, Trần Cao Vân… Đà Nẵng còn có cả một kho tàng văn hóa dân gian, lễ hội phong phú như

Lễ hội Quan Thế Âm

Hằng năm được nhân dân Đà Nẵng tổ chức nhân ngày Vía đức Quan Thế Âm (19 tháng 2 âm lịch) tại danh thắng Ngũ Hành Sơn, với các nghi lễ nhà Phật như rước ánh sáng, rước kiệu, dâng hoa, lễ cầu nguyện, thuyết giảng về Bồ Tát Quan Thế Âm. Lễ hội kéo dài 3 ngày, từ 17 đến 19 tháng 2 âm lịch. Đây là lễ hội lớn để nhân dân cầu nguyện cho quốc thái dân an, mưa thuận gió hoà. Và cũng là dịp nhân dân ôn lại truyền thống văn hóa, phong tục. Vào phần hội mang đậm nét văn hóa dân gian như hát tuồng, thi ca, thư pháp, thả đèn trên sông…

Lễ hội cá Ông

Còn gọi là lễ tế cá Voi, là lễ hội lớn nhất của ngư dân Đà Nẵng. Thờ cá Ông ở miền đất này không chỉ là sự tôn kính thần linh mà còn là cầu mong sự hưng thịnh của làng cá. Lễ hội cá Ông hằng năm diễn ra trong 2 ngày vào trung tuần tháng 3 âm lịch. Ngày đầu các nhà đều bày hương án để tế lễ. Lễ cầu an được tổ chức vào đêm đầu tiên tại làng. Sáng hôm sau, dân làng làm lễ rước trên biển, có dàn nhạc dân tộc trình diễn, hát bội. Trong hai ngày hội, tất cả tàu thuyền đều tập trung về bến để tham gia.
(Trích theo sách Việt Nam Văn hóa & Du lịch)

Đánh giá bài này

Bài viết liên quan

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *